"Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng" là câu thành ngữ nổi tiếng của người dân xứ Nghệ (Nghệ An - Hà Tĩnh) dùng để tôn vinh 4 ngôi đền linh thiêng nhất vùng. Các ngôi đền này thờ các vị thần, nhân vật lịch sử có công với dân, với nước, thể hiện văn hóa tâm linh sâu sắc
Đền Cờn ở Hoàng Mai - Ngôi đền của những truyền thuyết linh thiêng
Phường Quỳnh Phương (thị xã Hoàng Mai, Nghệ An) nơi đền Cờn tọa lạc hiện nay xưa kia có tên là xã Hương Cần; cửa Cờn ngày xưa gọi là cửa Đại Càn hay Đại Cần. Gần 700 năm trước, đền Cờn được lập ra thờ Tứ vị Thánh Nương. Vậy Tứ vị Thánh Nương đó là ai?
Theo thần phả tại đền và một số tài liệu lịch sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, có ghi: Vào năm Thiệu Bảo thứ nhất (1279), quân Tống thất bại trong trận chiến Tống - Nguyên, vua Tống Đế Bính cùng quan quân tự vẫn. Thái hậu Dương Nguyệt Quả cùng 2 công chúa và bà nhũ mẫu cũng nhảy xuống biển tự vẫn, thân xác trôi dạt đến cửa Cờn, được người dân nơi đây vớt lên chôn cất và thờ tại Đền.
Dân làng Càn thấy thi thể những phụ nữ chết đuối mặc xiêm y quý tộc, da dẻ hồng hào, trên người phảng mùi thơm như lan, như quế thì lấy làm rất thương xót, liền làm lễ chôn cất tử tế và lập miếu thờ. Mỗi khi ra khơi, đến cầu khấn đều thấy linh nghiệm. Từ đó, người dân đặt tên cho địa phương mình là Hương Cần, hay Phương Cần.
 |
| Đền Cờn ở Hoàng Mai - Ngôi đền của những truyền thuyết linh thiêng |
Xung quanh đền Cờn tồn tại nhiều truyền thuyết. Một số truyền thuyết khác lưu truyền, Tứ vị Thánh nương gồm Thái hậu Dương Nguyệt Quả, Quách Thị hoàng hậu, cùng hai công chúa. Lại có tích khác cho rằng, Tứ vị Thánh nương là Thái hậu và 3 công chúa.
Đặc biệt, trong dân gian vùng ven biển Quỳnh Phương còn lưu truyền một câu chuyện rằng đức Thánh nữ được thờ phụng trong Đền là một bậc cung phi của nước Việt chứ không phải người Nam Tống (câu chuyện này sẽ được chúng tôi tìm hiểu và phản ánh trong bài viết tiếp theo).
Tuy mỗi câu chuyện có những tình tiết khác nhau, nhưng tất cả đều ẩn chứa sự linh thiêng, huyền bí, là nguồn gốc để hình thành nên giá trị tâm linh độc đáo của Đền.
Ngoài ngôi đền chính tọa lạc bên dòng Mai Giang (Đền Cờn trong) còn có đền phụ nằm bên bãi biển Quỳnh Phương (Đền Cờn ngoài), cách nhau chỉ chừng 1km. Bài viết này tập trung giới thiệu về ngôi đền chính nổi tiếng là Đền Cờn trong.

Ngôi đền thiêng gắn với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc
Tương truyền, năm Hưng Long thứ 19 (1311), vua Trần Anh Tông thân chinh đi đánh quân Chiêm Thành, khi đến cửa Cờn thì dừng lại nghỉ ngơi. Nửa đêm, vua nằm mộng thấy nữ thần muốn giúp mình lập công đánh giặc.
Sáng hôm sau, Vua cho mời các bô lão trong vùng đến hỏi mới rõ sự tích Đền Cờn, liền vào kính tế. Sau đó, vua dẫn quân đến thẳng thành Chà Bàn và thắng lớn. Khi trở về kinh đô, vua làm lễ phong sắc “Đại Càn quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh nương”, ban vàng bạc và cho mở rộng Đền.
Năm Hồng Đức thứ nhất (1470), vua Lê Thánh Tông trên đường mang quân đánh dẹp phương nam cũng dừng chân tại đây, vào Đền làm lễ cầu đào. Nhờ Tứ vị Thánh Nương hiển linh phù trợ, nhà vua đã đánh thắng giặc. Khi trở về, vua cho trùng tu Đền nhằm báo đáp các vị Thánh nương giúp nước, giúp dân.
Sang thế kỷ 18, vua Quang Trung đã sắc phong cho Đền Cờn với mỹ tự “Hàm hoằng quảng đại” (nghĩa là công lao rộng khắp, to lớn) và “Hàm chương tiết liệt” (nghĩa là nêu gương tiết liệt cho muôn đời). Và từ khi lập đền, ngư dân quanh vùng mỗi khi ra khơi, thành tâm vào đền cầu khấn thì đều được bình an.
Giá trị văn hóa, lịch sử độc đáo
Trải qua nhiều đợt trùng tu, đền Cờn hiện nay nằm cận biển, sát núi, trên gò Diệc, dưới bóng cây cổ thụ, hướng mặt ra dòng Mai Giang thơ mộng, Đền mẫu Cờn Nghệ An có phong thủy đẹp, thế đứng giống đầu chim phượng hoàng với hai cánh là hai đồi cát giăng dài phía sau đền, hai mắt phượng là giếng Đò và giếng Đình nằm trên hai ngọn đồi này.
 |
| Tưng bừng lễ hội đền Cờn (Đền Cờn trong). |
Đền Cờn được xây dựng từ thời Trần, phát triển quy mô vào thời Lê, trùng tu nhiều ở thời Nguyễn, do vậy mang đậm phong cách kiến trúc cuối thời Lê đầu thời Nguyễn. Trải qua thời gian và những biến cố, ngôi đền hiện chỉ còn lại tòa Nghi môn, Chính điện, Trung điện, Hạ điện và tòa ca vũ.
Qua cổng đền vào sân, bước lên 10 bậc đá sẽ tới tòa Nghi môn. Đây là một tòa nhà hình chữ Công bề thế, gồm 2 tầng, 8 mái, liền tiếp phía sau là Chính điện, Trung điện và Hạ điện. Riêng tòa ca vũ với 3 gian chính và 2 gian phụ cũng to rộng và có đề tài trang trí đa dạng.
Đền Cờn hội tụ nhiều nét đặc sắc, từ vật liệu xây dựng cho đến các đường nét chạm khắc, tạo hình... thể hiện tay nghề điêu luyện của người xưa. Bên trong đền còn lưu giữ 142 hiện vật quý giá, gồm các loại bằng sắc, câu đối, đại tự, đồ tế khí (kiệu, tàn lọng, đồ ngà, đồng...), bia đá 2 mặt (cao 1.6m, rộng 1.2m, được dựng năm 1665), chuông đồng đúc năm Cảnh Hưng (1752) nặng 300 kg, cùng 28 pho tượng đá và nhiều tượng gỗ thời Lê...
Hàng năm Lễ hội Đền Cờn được tổ chức từ ngày 19 - 21 tháng Giêng âm lịch với các hoạt động văn hóa truyền thống như diễn trận thủy chiến giả gắn với truyền thuyết dựng đền, đu tiên, đấu vật, đánh cờ người, đua thuyền rồng, hát tuồng, chèo, chầu văn...
Đền Quả Sơn ở Đô Lương Nghệ An thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang
Đền Quả Sơn là ngôi đền linh thiêng thứ 2 trong “tứ đại đền thiêng” ở xứ Nghệ. Đền thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang - vị Tri châu có công lao to lớn xây dựng quê hương xứ Nghệ và mở mang, bảo vệ bờ cõi cho quốc gia. Đền Quả Sơn xưa thuộc địa phận xã Bạch Đường, tổng Bạch Ngọc, huyện Nam Đường, trấn Nghệ An (nay là xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An).
Theo sử cũ và thần phả đền Quả Sơn, Lý Nhật Quang là con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ. Hiện chưa có tài liệu nào ghi chép chính xác về năm sinh của ông, còn năm mất là 1057, sau gần 16 năm làm Tri châu Nghệ An.

Ông là người dũng cảm, trung hiếu. Năm 1039, Lý Nhật Quang được triều đình cử vào Nghệ An lo việc thu thuế. Tháng 11/1041, triều đình xuống chiếu cho ông vào làm Tri châu Nghệ An.
Đây là dấu mốc quan trọng khẳng định vai trò và ảnh hưởng to lớn của Lý Nhật Quang với vùng đất Nghệ An. Năm 1044, ông được triều đình trao cho quyền “tiết việt” (quyền được bổ nhiệm quan lại, xử phạt, phong thưởng, điều khiển binh lính… mà không cần xin phép triều đình).
 Tượng Uy Minh Vương Lý Nhật Quang tại đền Quả Sơn
Đền Quả Sơn mang vẻ đẹp tôn nghiêm của “tứ đại đền thiêng” xứ Nghệ Chính vì vậy trong quá trình thay vua trị vì xứ Nghệ, ông đã có những chủ trương chính sách cải cách, mở mang kinh tế, chính trị, văn hóa cho vùng đất này.
Năm 1057, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang mất và hiển thánh ngay dưới chân núi Quả. Nhân dân xứ Nghệ vô cùng thương tiếc, khóc thương, lập đền thờ đúng nơi ông mất và hiển thánh, gọi là đền Quả Sơn.
Toàn cảnh ngôi đền bên bờ sông Lam
Để tướng nhớ vị Tri châu đã có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, người dân đã lập nhiều đền đài, miếu mạo để thờ tự và suốt đời ghi nhớ công ơn của ông, trong đó Đền Quả Sơn được xem là ngôi đền thờ chính.

Người dân và du khách đổ về đền dịp đầu năm mới. Ảnh tư liệu
Trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, do thời gian và chiến tranh, đền Quả Sơn không còn lưu giữ được quy mô và tầm vóc như xưa (7 toà, 40 gian mang phong cách Lý Trần). Năm 1952, bom đạn của thực dân Pháp đã làm cho ngôi đền bị phá hoại nghiêm trọng. Đền chỉ còn lại ngôi mộ của ông và tấm bia đá cổ.
Năm 1996, thực hiện chủ trương bảo tồn, phục hồi và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa dân tộc, ngôi đền được chính quyền và nhân dân trùng tu. Đến năm 1999, đền được xếp hạng “Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia”.
Đền Bạch Mã ở Thanh Chương Nghệ An
Đền Bạch Mã Nghệ An thu hút du khách thập phương bởi sự tích gắn với vị Thượng Đẳng Thần nổi tiếng linh thiêng, thường hiển linh phù hộ cho người dân trong vùng cùng lễ hội với trò chơi vật cù độc đáo.
Những ai đi du lịch Nghệ An hẳn đều nghe câu "Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng” nói về bốn ngôi đền thiêng nổi tiếng vùng Nghệ - Tĩnh. Trong đó, ngôi đền được nhắc đến ở vị trí thứ 3, đền Bạch Mã Nghệ An ẩn chứa truyền thuyết về lịch sử giữ nước hào hùng của dân tộc và lễ hội đậm màu sắc văn hóa được lưu giữ tới ngày nay.

Trong chuyến về thăm quê Bác, ghé thăm các đền chùa ở Nghệ An với bề dày lịch sử lâu đời sẽ giúp hành trình của bạn thêm thú vị. Nếu muốn đến thăm đền Bạch Mã ở Nghệ An, bạn nên đi du lịch Thanh Chương một lần. Ngôi đền nằm trên khoảng đất rộng thuộc thôn Tân Hà, xã Võ Liệt cũ, tỉnh Nghệ An.
Đền Bạch Mã Thanh Chương Nghệ An được xây dựng trên khu đất đẹp về phong thủy, không gian xung quanh thoáng đãng rộng rãi, trước mặt là con sông uốn lượn, đằng sau là con đường nối từ quốc lộ 49 tới đường mòn Hồ Chí Minh.
Đền Bạch Mã Nghệ An thờ ai? Nhiều ngôi đền xứ Nghệ, như đền Cuông Nghệ An đều gắn với những sự tích kỳ bí. Sự tích đền Bạch Mã ở Nghệ An gắn liền với danh tướng Phan Đà. Ông là người thôn Chi Linh, xã Võ Liệt cũ, Nghệ An. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh giỏi võ, xuất chúng tài hoa hơn người.

Năm 1418, khi Lê Lợi đem theo nghĩa quân Lam Sơn tạm lui về Nghệ An làm căn cứ tập hợp lực lượng, Phan Đà đã đem binh sĩ của mình gia nhập nghĩa quân của Lê Lợi. Từ đó, ông trở thành dũng tướng nổi danh, lập nhiều chiến công hiển hách.
Không may, trong một lần cải trang đi nắm tình hình giặc, ông bị phát hiện. Sau khi tả xung hữu đột với quân thù, ông bị trọng thương và hy sinh khi mới 24 tuổi.
Vì danh tướng Phan Đà thường mặc áo giáp trắng, cưỡi ngựa trắng, nên sau này, vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) đã cho lập đền thờ ở nơi ông hy sinh và đặt tên là đền thờ Bạch Mã. Nhà vua sắc phong ngôi đền vào hàng “Điển lễ quốc tế” nghĩa là tế lễ theo nghi thức nhà nước do quan triều đình làm chủ tế.
Qua đó có thể thấy vai trò quan trọng của ngôi đền và vị trí đức cao vọng trọng của vị Thượng Đẳng Thần được thờ phụng nơi đây trong đời sống, văn hóa tỉnh Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung.

Các triều đại phong kiến về sau tiếp tục sắc phong hơn 100 đạo sắc cho Thần Bạch Mã và tôn ông làm Thượng Đẳng tối linh tôn thần. Những sự tích được người dân địa phương truyền tai nhau về việc thần đền hiển linh hay phù hộ cho người dân trong vùng vượt qua nhiều đợt thiên tai, giặc giã càng khiến cho ngôi đền nức tiếng linh thiêng gần xa.
Đền Bạch Mã Nghệ An đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người dân địa phương và chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Nhiều vị vua trong lịch sử từng đến đền Bạch Mã Nghệ An cầu đảo trên đường đi đánh giặc cũng như ban sắc phong, đồ tế phẩm cho đền.
Trong cao trào Cách mạng 1930-1931, đền Bạch Mã ở Nghệ An là nơi tổ chức hoạt động bí mật của tổ chức Nông hội xã Võ Liệt. Năm 1945, nhân dân trong xã cũng tập trung tại đền trước khi tới Huyện đường lật đổ chính quyền thực dân phong kiến.
Đền Chiêu Trưng Vương ở Thạch Hà Hà Tĩnh thờ Tướng Lê Khôi
Đền Chiêu Trưng tọa lạc tại Hà Tĩnh, không chỉ là một công trình kiến trúc cổ kính mà còn là biểu tượng cho lòng hiếu thảo và sự hy sinh vì nước của vị danh tướng Lê Khôi. Ngôi đền linh thiêng này đã trở thành một điểm đến văn hóa, tâm linh quan trọng, thu hút du khách và người dân từ khắp nơi ghé thăm để tìm hiểu lịch sử, chiêm bái và hòa mình vào không gian yên bình của vùng đất Hà Tĩnh. Hãy cùng Lalago khám phá những giá trị đặc biệt của ngôi đền và lễ hội đền Chiêu Trưng nổi tiếng này nhé!

1. Đền Chiêu Trưng ở đâu? Giới thiệu chung về ngôi đền nổi tiếng xứ Nghệ
Đền Chiêu Trưng tọa lạc trên đỉnh núi Long Ngâm thuộc thôn Chiêu Trưng, xã Thạch Bàn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ngôi đền sở hữu một vị trí địa lý vô cùng đắc địa “tựa sơn hướng thủy” theo quan niệm phong thủy. Phía sau đền là dãy núi Long Ngâm hùng vĩ, che chắn, tạo thế vững chãi. Phía trước, đền hướng mặt ra Biển Đông bao la, mang lại tầm nhìn khoáng đạt và không khí trong lành.
Địa thế này không chỉ tạo nên cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn được tin là nơi hội tụ linh khí đất trời, tăng thêm sự linh thiêng cho ngôi đền, khiến nơi đây trở thành một địa điểm lý tưởng để chiêm bái và tận hưởng không gian yên bình.
2. Đền Chiêu Trưng thờ ai?
Đền Chiêu Trưng là nơi thờ phụng Đại vương Lê Khôi, hay Lalago còn biết đến với danh hiệu Chiêu Trưng Đại Vương. Ông là cháu ruột và là một trong những tướng lĩnh xuất sắc của Lê Thái Tổ trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược.
Lê Khôi không chỉ nổi tiếng với tài năng quân sự và những chiến công hiển hách mà còn được người đời ca ngợi bởi tấm lòng hiếu thảo vô bờ bến đối với mẹ. Tương truyền, sau khi mẹ mất, ông từ quan, mang thi hài mẹ đi tìm đất an táng suốt nhiều năm. Trên đường đi, ông đã chiến đấu chống lại quân Chiêm Thành và hy sinh tại vùng cửa biển. Thi hài ông sau đó được an táng tại chính ngọn núi Long Ngâm, nơi ngôi đền tọa lạc ngày nay.

3. Ý nghĩa lịch sử và tâm linh của ngôi đền
Đền Chiêu Trưng mang trong mình những giá trị lịch sử và tâm linh sâu sắc. Về mặt lịch sử, ngôi đền là minh chứng sống động cho một giai đoạn hào hùng của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và công lao của các vị anh hùng đã hy sinh vì độc lập, tự do của đất nước. Việc thờ phụng Lê Khôi cũng là sự tôn vinh đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, nhắc nhở các thế hệ về lòng hiếu thảo và sự biết ơn đối với những người đã có công dựng nước và giữ nước.
Về mặt tâm linh, đền được xem là nơi linh thiêng, hội tụ tinh hoa đất trời, nơi du khách và người dân tìm đến để cầu bình an, may mắn và bày tỏ lòng thành kính. Ngôi đền đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1993.
4. Truyền thuyết và sự tích đền Chiêu Trưng
Truyền thuyết kể rằng, Đại vương Lê Khôi là một người con vô cùng hiếu thảo. Sau khi dẹp yên giặc Minh, giữ nước thái bình, mẹ ông qua đời. Lê Khôi quyết định từ quan, dốc lòng thực hiện di nguyện của mẹ là tìm một vùng đất linh thiêng để an táng. Ông đã mang theo linh cữu mẹ đi khắp nơi.
Khi đến vùng cửa biển Kỳ Hoa, ông gặp quân Chiêm Thành đang quấy nhiễu. Dù đang mang tang mẹ, Lê Khôi vẫn ra sức chiến đấu, đánh tan quân giặc để bảo vệ bờ cõi. Tuy nhiên, trong trận chiến cuối cùng, ông đã hy sinh. Thi hài ông được an táng tại núi Long Ngâm, nơi có thế đất “Cửu long tranh châu”, được cho là rất thiêng.
Cảm kích trước tấm lòng hiếu thảo tột bậc và công lao giữ nước to lớn của Lê Khôi, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ông tại chính nơi ông an nghỉ. Triều đình Lê sau này cũng sắc phong ông là Chiêu Trưng Đại Vương và chuẩn cho lập miếu, đền thờ phụng. Kể từ đó, đền Chiêu Trưng trở thành biểu tượng cho lòng hiếu nghĩa và tinh thần yêu nước của người dân Hà Tĩnh.

5 Khám phá kiến trúc đền Chiêu Trưng Hà Tĩnh
Đền Chiêu Trưng Hà Tĩnh là một quần thể kiến trúc cổ kính, được xây dựng theo phong cách truyền thống của các ngôi đền Việt Nam, thể hiện rõ nét nghệ thuật kiến trúc thời hậu Lê. Ngôi đền được bố cục theo kiểu “Tam tòa nhất thể”, bao gồm ba tòa chính là Hạ điện, Trung điện và Thượng điện, được sắp xếp nối tiếp nhau và nằm trên cùng một trục.
Các tòa điện chủ yếu được làm từ gỗ lim quý hiếm, với hệ thống cột kèo vững chắc, mái cong truyền thống mềm mại. Điểm đặc sắc nhất trong kiến trúc đền là sự tinh xảo trong từng chi tiết chạm khắc. Các nghệ nhân xưa đã tỉ mỉ chạm trổ các linh vật như rồng, phượng, cùng với hoa lá, mây trời trên các vì kèo, đầu đao, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật sống động, giàu tính biểu tượng và thẩm mỹ.
Các bức phù điêu, hoành phi, câu đối được sơn son thếp vàng lộng lẫy càng làm tăng thêm vẻ uy nghiêm, cổ kính cho ngôi đền, khiến du khách không khỏi trầm trồ trước sự tài hoa của người xưa.
Ngoài kiến trúc độc đáo, đền Chiêu Trưng còn mang đến một không gian vô cùng yên bình, tách biệt khỏi sự ồn ào của cuộc sống hiện đại. Ngôi đền nằm giữa một quần thể cây xanh cổ thụ rợp bóng mát. Tiếng chim hót líu lo, tiếng gió biển rì rào và mùi hương trầm thoang thoảng rất thích hợp cho những ai muốn tìm về chốn bình yên, sự thanh thản trong tâm hồn. Du khách có thể tản bộ trong khuôn viên đền, ngắm nhìn cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và cảm nhận sự hòa hợp giữa con người và cảnh vật. |